Saturday, November 7, 2015

Vì sao đầu tư hơn 24.000 tỷ đồng, Sài Gòn vẫn ngập và phải vay tiếp? (P2)


Sơ tán, chật vật trong nước ngập... những hình ảnh này cứ lặp đi lặp lại mỗi tháng 9, tháng 10 hàng năm tại Sài Gòn. Ảnh chụp ngày 14/10/2012,  trên đường Nguyễn Văn Quá, quận 12. (Ảnh: nld.com.vn)
Sơ tán, chật vật trong nước ngập... những hình ảnh này cứ lặp đi lặp lại mỗi tháng 9, tháng 10 hàng năm tại Sài Gòn. Ảnh chụp ngày 14/10/2012, trên đường Nguyễn Văn Quá, quận 12. (Ảnh: nld.com.vn)
Phần 2: Những “bom nước” nhân tạo
Về nguyên tắc, ngập lụt tại Sài Gòn thường do 3 nguyên nhân chính: nước lũ của dòng sông tràn lên bờ, nước úng khi mưa lớn và nước triều cường – TS. Nguyễn Bách Phúc (Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCM HASCON, Viện trưởng Viện Điện – Điện tử – Tin học EEI) cho biết trên báo Việt Nam Net.

Hai yếu tố sau thuộc về tự nhiên (mưa lớn kéo dài, triều cường dâng cao), nên việc khống chế thì… quả là không có cách. Nhưng nói đúng hơn, không thể khống chế lượng nước vào, nhưng có thể điều chỉnh lượng nước ra.
Địa hình đô thị ngập bán triều của Sài Gòn khớp ‘kỳ diệu’ với khả năng thoát nước của gần 7.900 km hệ thống kênh rạch chằng chịt. Nhưng 60% kênh rạch thành phố đã bị lấn chiếm, san lấp trong 20 năm qua. Đó là nguyên nhân cực lớn dẫn đến ngập thành phố, khi con người đã tự ý phá hoại thiên nhiên – TS Phạm Sanh cho hay trên Báo Đất Việt. (Xem Phần 1)
Theo đó, vấn đề không chỉ là tránh “cùng nhau xả lũ” tại các hồ nhân tạo, mà còn ở việc nhận diện nạn ngập do mưa lớn, triều cường đang ngày một nghiêm trọng là do tốc độ bê tông hóa, sụt lún bề mặt đang ở mức báo động. 

“Bom nước” 1,58 tỷ m³
Vấn đề xả lũ bao gồm xả lũ của hồ chứa nước nhân tạo và xả lũ từ các hồ chứa nước của nhà máy thủy điện.
Hồ Dầu Tiếng là một trong những hồ nước nhân tạo lớn nhất của Việt Nam và Đông Nam Á. Hồ có dung tích chứa 1,58 tỷ m³ nước, thiết kế công suất xả lũ cao nhất 2.800 m3/s.
Theo hai kênh Đông và kênh Tây, nước được dẫn ra tạo nên những vùng cây ăn trái, khoai mì (sắn), mía phát triển xanh tốt kèm theo các khu du lịch sinh thái tại vùng hoang hóa Tây Ninh, vùng khô cằn Củ Chi…, vùng nhộn nhịp các khu công nghiệp tại Tây Ninh, tây bắc Sài Gòn, đồng thời cấp nước cho 10 triệu dân Sài Gòn.
Đập xả lũ ra đầu nguồn sông Sài Gòn có chức năng điều tiết nước trong hồ. Thế nhưng, theo đánh giá của Bộ Tài Nguyên và Môi trường, với tốc độ đô thị hóa trên sông Sài Gòn và thành phố Sài Gòn như hiện nay, thì dù có đê bao và cống ngăn triều như trong quy hoạch chống ngập do Chính phủ phê duyệt thì hệ thống chống ngập này cũng không chịu được mức phân lũ vượt quá 800 m3/s.


Đập tràn xả lũ hồ Dầu Tiếng. (Ảnh: baotayninh.vn)
Đập tràn xả lũ hồ Dầu Tiếng. (Ảnh: baotayninh.vn)

Theo đó, công suất thiết kế xả lũ 2.800 m3/s của hồ Dầu Tiếng thực sự là một con số khổng lồ, vượt gấp 3 lần sức chống chịu của toàn thành phố.
Trong trường hợp xấu nhất, đập vỡ (do động đất) hoặc xả lũ theo thiết kế (để bảo vệ hồ), toàn bộ các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè; quận Gò Vấp, Bình Thạnh, Thủ Đức, Tân Phú, Tân Bình, Bình Tân, Phú Nhuận và quận 2, 4, 7, 8, 9, 10, 12 sẽ bị “nhấn chìm” trong nước.
Trong tình huống này, những khối nước có lưu lượng lên gần 25.500 m3/s sẽ cuốn phăng về hướng Sài Gòn. Trong vòng 3 giờ 17 phút, huyện Củ Chi sẽ ngập sâu 10,25m. Trong vòng 24 giờ vỡ đập, trung tâm Sài Gòn sẽ ngập 2,15m.
Nếu vỡ đập trùng vào thời điểm lũ từ đầu nguồn đổ về thì chỉ trong 2 giờ 8 phút, nước sẽ ào về gây ngập gần 1,2m tại Củ Chi. Trong khoảng 23 giờ 18 phút, nước sẽ tuôn vào gây ngập sâu gần 2,4m trung tâm thành phố – Chi cục Thủy lợi và phòng chống lụt bão (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP.HCM) chỉ ra hồi cuối tháng 7/2013, theo thông tin từ báo Lao Động.
Sau sự cố vỡ van năm 1984, mức xả lũ chỉ mới đạt 580 m3/s đã làm cho cả Sài Gòn ngập trong nước. Lưu ý là thời điểm đó sông Sài Gòn và hệ thống kênh rạch còn thông thoáng và chảy tốt nhưng vùng hạ du, đặc biệt là Sài Gòn đã ngập nặng, theo báo Người Lao Động.


Hồ Dầu Tiếng có diện tích 27.000 ha với sức chứa 1,58 tỷ m3, bao quát cả một vùng rộng lớn của nhiều xã, huyện của 3 tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước. (Ảnh: nld.com.vn)
Hồ Dầu Tiếng có diện tích 27.000 ha với sức chứa 1,58 tỷ m3, bao quát cả một vùng rộng lớn của nhiều xã, huyện của 3 tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước. (Ảnh: nld.com.vn)

Năm 2008, đợt xả tràn của hồ Dầu Tiếng trùng với đợt triều cường giữa tháng 11 khiến 11 quận, huyện ngập nặng, nước xô vỡ bờ bao trên địa bàn các quận huyện như Q.12, Bình Thạnh, Thủ Đức, Gò Vấp, các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, theo báo Tuổi Trẻ.
Ban đầu, hồ Dầu Tiếng tiến hành đợt xả lũ ngắn trong vài giờ với lưu lượng xấp xỉ 600 m3/s. Lúc này, mưa nhiều kết hợp với triều cường làm cho nước không thoát nổi, gây ngập úng ngoại và nội thành. Sau đó giảm xuống lưu lượng 400 m3/s, sau đó giảm còn 250 m3/s, cuối cùng còn 150 m3/s.
“Vào những lúc lượng nước tăng lên quá nhanh, có nguy cơ vỡ hồ bắt buộc phải xả lũ, dù biết tại TP.HCM và các tỉnh hạ nguồn đang bị ảnh hưởng của triều cường. Hiện nay hồ đang chứa trên 1,5 tỉ m3 nước nếu bị bể thì sẽ là thảm họa cho các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và TPHCM”, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Khai thác Thủy lợi hồ Dầu Tiếng cho báo Người Lao Động hay vào tháng 11/2008.
Tới năm 2011, Hội thủy lợi TP.HCM nhận định thực tế thành phố đã không chịu nổi quá mức xả lũ 500m3/s và mức này cũng chỉ chịu được thời gian rất ngắn (không quá 6 giờ).
Tiếp đến đầu tháng 10/2012, mưa lớn kéo dài kết hợp với triều cường, cộng thêm hồ Dầu Tiếng, Trị An xả lũ khiến toàn TP có 15 điểm ngập nặng. Nước dâng cao so với mặt đường từ 50-70 cm tại quận 6, 9, Thủ Đức làm hầu hết các xe máy lưu thông qua đây đều chết máy.
Trong đợt này, công ty Khai thác Thủy lợi hồ Dầu Tiếng xả với lưu lượng từ 50 m3/s rồi nâng lên 80 m3/s. Nhưng sau đó phải ngưng xả vì nếu kết hợp với triều cường vượt mức báo động 3 là 0,05 m (đạt mức 1,55 m) trong ba ngày sau, có nguy cơ sẽ gây ra ngập nặng cho hạ du.
Trước đó tròn một năm, tại Hội thảo Khoa học về xả lũ hồ Dầu Tiếng diễn ra vào tháng 10/2011, ông Vũ Đức Hùng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa cho biết: Từ khi bắt đầu tích nước đến nay thì lượng nước xả chỉ bằng 1/3 công suất của hồ. Nhưng với lượng này thì mực nước đã lên đến chân đập chính và chân bờ kênh Đông.


Nguồn cấp nước từ hồ Dầu góp phần tạo nên những vườn trái và mô hình du lịch sinh thái ở vùng đất khát Củ Chi. (Ảnh: nongnghiep.vn)
Nguồn cấp nước từ hồ Dầu Tiếng góp phần tạo nên những vườn trái và mô hình du lịch sinh thái ở vùng đất khát Củ Chi. (Ảnh: nongnghiep.vn)

Như vậy, khả năng thoát nước của sông Sài Gòn sẽ không đảm bảo, do hai bên bờ sông bị lấn chiếm quá nhiều. Nếu như thành phố gặp cơn mưa 517mm (tại Ninh Thuận) hoặc 1100mm (Quảng Ngãi), cộng với triều cường thì xem như nhấn chìm cả thành phố, gây thiệt hại lớn cả về kinh tế lẫn xã hội, theo thông tin từ trang web của Bộ Tài Nguyên và Môi trường.
Giải pháp đề xuất là nâng cao trình hồ Dầu Tiếng. Từ cuối năm 2011, phương án nâng cao trình hồ Dầu Tiếng để trữ lũ đã được đưa ra để bảo vệ Sài Gòn, Bình Dương và cả Tây Ninh.
Phương án được nhiều chuyên gia tán thành, nhưng theo GS Nguyễn Sinh Huy, tổng cục phải có quy định bắt buộc đơn vị vận hành hồ Dầu Tiếng phải hạ thấp mực nước chứa trong hồ dưới mức cho phép là 24,3 m để đón lũ, do dự án này nếu triển khai sẽ phải mất một thời gian khá dài (có thể là 3-5 năm). Trong thời gian đó, vùng hạ lưu sẽ đối phó như thế nào nếu gặp trường hợp thời tiết xấu? Vì vậy, buộc phải hạ mực nước chứa trong hồ.
Đập thủy điện trên sông Đồng Nai: “Không thể nói nó mãi mãi nằm yên”
Theo GS-TSKH Lê Huy Bá, Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ và Quản lý môi trường (ĐH Công nghiệp TP.HCM), có 16 hồ chứa nước của các nhà máy thủy điện loại lớn ở độ cao từ 700 đến 1.000 m so với mặt nước biển cùng hàng trăm đập nhỏ nằm dọc lưu vực sông Đồng Nai.
Nếu xảy ra động đất gây bể hồ chứa hoặc hồ chứa cùng xả lũ (do áp lực nước đầu nguồn đổ về) thì ai bảo đảm thành phố không phải là một Bangkok thứ hai (thảm họa lũ lụt ở Bangkok năm 2011)? Chưa kể sông Đồng Nai nằm trên đới đứt gãy về động đất nên một khi xảy ra động đất, nguy cơ vỡ đập là rất lớn chứ không thể nói nó mãi mãi nằm yên”, GS Bá nói trên báo Pháp Luật TP.HCM vào năm 2011.


Một cảnh xả lũ của Thủy điện Đắk Mi 4 (huyện Phước Sơn, Quảng Nam) với lưu lượng 2.744 m³/s. (Ảnh: sggp.org.vn)
Một cảnh xả lũ của Thủy điện Đắk Mi 4 (huyện Phước Sơn, Quảng Nam) với lưu lượng 2.744 m³/s. (Ảnh: sggp.org.vn)

Trong tình hình chưa có các nguy cơ rủi ro về độ an toàn của hồ, thì điều quan trọng là việc điều phối xả lũ, khống chế lượng nước, tránh tình trạng “cùng nhau xả lũ”. Ngoài ra là tạo thêm dòng chảy xả lũ phụ, mở các hướng thoát lũ mới như thoát sang sông Vàm Cỏ (Long An), sử dụng các hồ, đập trên sông Sài Gòn, đồng thời mở rộng mặt cắt, tăng khả năng thoát lũ cho sông Sài Gòn… – TS Nguyễn Ngọc Anh, Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi Miền Nam nói.
Cuối tháng 9, đầu tháng 10/2012, mưa lớn cộng với việc Nhà máy Thủy điện Cần Đơn (tỉnh Bình Phước) và Nhà máy Thủy điện Trị An xả lũ với tổng lưu lượng khoảng 2.000 m3/s đã khiến nhiều khu vực dân cư thuộc TP. Biên Hòa và hai huyện Long Thành, Nhơn Trạch của tỉnh Đồng Nai bị ngập, gây thiệt hại nặng. Riêng HTX nông nghiệp của xã Tân Hạnh có 7-8 hộ bị thiệt hại với tổng số tiền hơn 3 tỷ đồng.
Tháng 10/2014, mưa to, lượng nước về hồ tăng nhanh, khiến Hồ Trị An phải tăng lượng xả lũ để bảo vệ an toàn đập. Chỉ trong vòng hai ngày, lưu lượng xả tăng lên hơn 3 lần, từ 80 m3/giây lên 300 m3/giây.


Mực nước sông Đồng Nai lên cao vào chiều ngày 6/10/2014, đoạn đi qua TP Biên Hòa. (Ảnh: vnexpress.net)
Mực nước sông Đồng Nai lên cao vào chiều ngày 6/10/2014, đoạn đi qua TP Biên Hòa. (Ảnh: vnexpress.net)

Sụt lún đất nền, bê tông hóa bề mặt làm nghiêm trọng vấn đề triều cường
Mực nước triều lớn nhất ngày càng gia tăng cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngập úng thường xuyên của thành phố.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Cầu (ĐH Tài nguyên Môi trường TP.HCM) công bố năm 2014, Sài Gòn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, mực nước triều lớn nhất ngày càng gia tăng: tăng 0,2 m trong vòng 4 năm từ năm 2009 (1,48 m) đến 2013 (1,68 m).
Với khoảng 60% diện tích toàn thành phố thuộc vùng đất thấp có cao độ thấp hơn 2 m, trong điều kiện hệ thống thoát nước không làm việc hiệu quả tất yếu dẫn đến tình trạng ngập thường xuyên. Diện ngập và độ sâu ngập sẽ càng lớn khi triều cường kèm theo mưa lớn và xả lũ từ các công trình trên thượng lưu.


Người dân Sài Gòn sẽ phải sống chung nhiều năm với mưa lớn kết hợp triều cường đồng thời xả lũ từ các hồ thủy điện, trong khi khả năng thoát nước của thành phố đang ngày càng giảm. (Ảnh: baogiaothong.vn)
Khả năng thoát nước của thành phố đang ngày càng giảm trong khi mưa lớn, triều cường đồng thời xả lũ từ các hồ thủy điện đang thay đổi ngày càng phức tạp do các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo. (Ảnh: baogiaothong.vn)

Đáng chú ý là các số liệu thống kê cho thấy đỉnh triều ở trạm Phú An (sông Sài Gòn) mỗi năm tăng lên vài cm trong khi ở Vũng Tàu thì không tăng, Bộ Tài Nguyên và Môi trường cho hay. Ví dụ, trong đợt triều tháng 11/2007, đỉnh triều ở trạm Phú An (sông Sài Gòn) là 1,43 m thì ở Vũng Tàu, đỉnh triều chỉ có 1,39 m. Điều này cho thấy nguyên nhân triều dâng cao có thể là do tình trạng đô thị hóa ở Sài Gòn, ông Nguyễn Minh Giám – Trưởng Phòng Dự báo Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ nhận định.
Điều này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Cầu. Trên thực tế, từ năm 1995 – 2010, nước biển chỉ dâng cao tối đa 2 cm, trong khi thủy triều trong thành phố lại dâng tới 20 – 25 cm và đang có xu thế tiếp tục cao.
Theo đó, biến đổi khí hậu hiện không phải nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng triều cường gia tăng.
Hiện tượng sụt lún đất nền mới là nguyên nhân khiến mực nước triều cường ngày một gia tăng, đồng thời gây ra tình trạng ngập lụt nghiêm trọng ở Sài Gòn, TS Hồ Long Phi cho hay.
Nhiều nơi trong thành phố đang lún với tốc độ rất nhanh, từ 1,5-2 cm/năm, có nơi lên tới 3 cm/năm, theo kết quả khảo sát công bố năm 2013. Tốc độ này gấp 3 lần tốc độ dâng của mực nước biển.


Xe bị ngập lút bánh trong dòng nước đen trên đường Tô Hiệu, quận Tân Phú, TPHCM tối 23/10/2015. (Ảnh: baogiaothong.vn)
Xe bị ngập lút bánh trong dòng nước đen trên đường Tô Hiệu, quận Tân Phú, Sài Gòn tối 23/10/2015. (Ảnh: baogiaothong.vn)

Dự báo đến năm 2020, nhiều khu vực ở TP tiếp tục lún thêm 12 – 22 cm. Ngoài nguyên nhân khách quan là địa chất yếu, khai thác nước ngầm tràn lan, phát triển đô thị… tự phát, kiểm soát lỏng lẻo là những lý do khiến mặt đất đang bị biến dạng mạnh. Cùng xem một số thông số.
Chỉ hơn 10 năm, từ 1999 đến 2013, đã có thêm hơn 100.000 giếng, khiến mực nước ngầm bị hạ thấp nhanh chóng, tăng sụt lún ở nhiều nơi. Bangkok (Thái Lan) đã ngưng khai thác nước ngầm gần 20 năm qua nên mức độ lún đã ổn định và đang đi ngang, theo thông tin từ báo Thanh Niên.
Trong vòng 17 năm, từ 1989 tới 2006, diện tích bê-tông hóa bề mặt trên toàn thành phố tăng tới 305,5%, trong khi dân số thành phố chỉ tăng 79,5% (từ 1990 – 2010), theo nghiên cứu của Trần Thị Vân và Hà Dương Xuân Bảo (2007).


Đằng sau một tốc độ đô thị hóa có tỷ lệ lên tới 83% (cao nhất nước), là một Sài Gòn "bì bõm" như này. Ảnh chụp ngày 23/10/2015. (Ảnh: ngoisao.net)
Đằng sau một tốc độ đô thị hóa có tỷ lệ lên tới 83% (cao nhất nước, tính đến năm 2014), là một Sài Gòn “bì bõm” như này. Ảnh chụp ngày 23/10/2015. (Ảnh: ngoisao.net)

Như thế, một diện tích bề mặt tự nhiên có khả năng thấm trung bình 50% lượng nước mưa đã bị chuyển đổi thành bề mặt đô thị vốn chỉ thấm được bình quân 15% lượng nước. Trong khi đó, khả năng chứa nước của hệ thống hồ, ao và vùng ngập nước trong thành phố đã giảm gần 10 lần chỉ trong vòng 8 năm, từ 2002 đến 2009, theo ông Nguyễn Đỗ Dũng – Quy hoạch sư trưởng, Công ty tư vấn Thanh Bình.
Cộng thêm điều kiện lượng mưa đang thay đổi rất bất thường trong 2, 3 năm gần đây (riêng mùa mưa 2015, đã có ít nhất 50 trận mưa vượt mức chịu đựng của hạ tầng thành phố), thì ngập hay không ngập đã không còn là điều phải băn khoăn nữa.
Câu hỏi cần đặt ra là thành phố đã và đang chống ngập như thế nào?

Theo daikynguyenvn.com